Truy cập

Hôm nay:
1
Hôm qua:
0
Tuần này:
1
Tháng này:
0
Tất cả:
89957
 Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ xã nhiệm kỳ 2015 - 2020, bên cạnh những thuận lợi cũng gặp không ít khó khăn: Kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, thời tiết, thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp… Song, dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, sự chỉ đạo, điều hành của chính quyền, sự tham của MTTQ, các đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp và nhân dân trong xã đã lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ hoàn thành và hoàn thành vượt mức 22/29 chỉ tiêu đề ra, kinh tế - xã hội phát triển khá, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc; quốc phòng - an ninh được đảm bảo, công tác xây dựng Đảng, chính quyền, MTTQ và đoàn thể được tăng cường. Kết quả đạt được cụ thể như sau:

A.    NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

I.  Thực hiện 2 Chương trình trọng tâm

1.  Chương trình xây dựng xã đạt chuẩn Nông thôn mới

Chương trình xây dựng xã đạt chuẩn nông thôn mới được cả hệ thống chính trị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt và huy động các nguồn lực xây dựng nông thôn mới với tổng giá trị: 185.490,8 tr.đ. Đến năm 2019 có 10/10 thôn đạt chuẩn NTM, 01 thôn đạt NTM kiểu mẫu, xã hoàn thành 19/19 tiêu chí  đang đề nghị  cấp có thẩm quyền xem xét và công nhận.

2. Chương trình xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh

Cấp ủy luôn quan tâm xây dựng củng cố hệ thống chính trị từ xã đến thôn, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động. Đội ngũ cán bộ công chức được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ đạt chuẩn theo quy định. Cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các đoàn thể hàng năm được đánh giá phân loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

II.  Lãnh đạo phát triển KT-XH, bảo đảm QP-AN

1. Kinh tế: tăng trưởng cao với tổng giá trị sản xuất 340,2 trđ, vượt kế hoạch 22,8%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành nông nghiệp từ 33% giảm xuống 25,6%; CN – XD tăng từ 26% lên 30,1%; dịch vụ tăng từ 41% lên 44,3%. Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2019 đạt 40,8 tr.đ gấp 1,53 lần so với đầu nhiệm kỳ.

1.1. Nông - Lâm - Thủy sản:Hàng năm tổng diện tích gieo trồng 1044 ha, đạt 92,6% KH với tổng sản lượng lương thực 5.647 tấn, đạt 94,1% KH. Bình quân lương thực đầu người đạt 881,7 kg. Chuyển đổi 31,9 ha diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản kết hợp có giá trị kinh tế cao. Tỷ lệ cơ giới hóa trong sản xuất đạt trên 60%. Hai HTXDVNN trên địa bàn đã chủ động dịch vụ cung ứng vật tư, đầu tư tu sửa, xây dựng hệ thống mương máng làm tốt công tác dự tính, dự báo phòng trừ sâu bệnh.

 Chăn nuôi - nuôi trồng thủy sản: phát triển theo hướng trang trại và gia trại; Công tác tiêm phòng, kiểm soát giết mổ được thực hiện tốt. Tổng đàn gia súc bình quân hàng năm 3.736 con, đạt 74,7% KH; đàn gia cầm 26.000 con đạt 43,3 % KH. Diện tích nuôi trồng thủy sản hàng năm là 149,68 ha, sản lượng 748 tấn. Giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 7,7 tỷ đồng, công tác bảo vệ phát triển rừng được quan tâm, tỷ lệ che phủ rừng đạt 35%. Trên địa bàn có 72 mô hình trang trại, bình quân thu nhập mỗi trang trại đạt 150 tr.đ/năm.

1.2. Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp, đầu tư xây dựng cơ bản: Tốc độ tăng trưởng khá, với tổng giá trị sản xuất bình quân ước đạt 66 tỷ đồng, thành lập mới 5 doanh nghiệp, nâng tổng số DN lên 13 DN đạt 86,6% KH. Thực hiện các quy hoạch quan trọng như: chuyển đổi chợ Đồng Ô, quy hoạch khu dân cư. Nhiều công trình xây dựng được hoàn thành đưa vào sử dụng như: 5 km đường liên thôn, trạm y tế, nhà hiệu bộ trường THCS, 02 phòng học trường Mầm non khu B, sân vận động xã, tu sửa, nâng cấp cơ sở vật chất các trường học, hệ thống kênh mương, cứng hóa giao thông nội đồng.  

1.3. Dịch vụ: Tổng giá trị ngành dịch vụ năm 2019 đạt: 138 tỷ đồng, tăng 2,5 lần so với năm 2015. Các loại hình dịch vụ phát triển. Tín dụng ngân hàng được quan tâm hoạt động có hiệu quả với tổng số dư nợ 72.482 trđ tăng 46% so với năm 2015.  

1.4. Công tác quản lý, điều hành ngân sách: có nhiều tiến bộ, hoạt động thu chi ngân sách đã bám sát dự toán huyện giao và hàng năm thu NS đều vượt chỉ tiêu. Năm 2019 đạt 12,970 tr.đ tăng 51,6% so với năm 2015. Hoạt động chi ngân sách đúng mục đích, tiết kiệm đảm bảo nguyên tắc tài chính.

1.5. Công tác quản lý, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường: Lãnh đạo tốt công tác quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2020, công tác quy hoạch sử dụng đất đến năm 2025 và kế hoạch sử dụng đất hàng năm. Thực hiện giải phóng mặt bằng các dự án theo đúng quy định. Phối hợp với đơn vị tư vấn hoàn thành đo đạc bản đồ địa chính chính quy năm 2018. Xử lý cấp GCN QSD đất ở cho nhân dân được 201 trường hợp đạt 65,5%. Xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất đai, xây dựng trái phép 4 vụ theo quy định, đã tổ chức vận động tự tháo dỡ 2 công trình vi phạm.

Tổ chức triển khai kế hoạch số 50-KH/HU của Ban Thường vụ Huyện ủy về “thực hiện cuộc vận động toàn dân chung tay xây dựng môi trường xanh - sạch - đẹp từ thực trạng vấn đề VSATTP, công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn xã”.  Triển khai phương án thu gom xử lý, vận chuyển rác ra khỏi địa bàn.

2. Văn hoá- xã hội.

2.1. Giáo dục: Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên, cơ sở vật chất, thiết bị trường học cơ bản đáp ứng nhu cầu dạy và học, tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 100%, đội ngũ giáo viên có trình độ chuẩn và trên chuẩn đạt 100%. Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học mẫu giáo đạt 100% ăn bán trú tại trường đạt 96,5%; giữ vững phổ cập các bậc học, trường đạt chuẩn quốc gia; tốt nghiệp THCS và thi đậu vào lớp 10 đạt 100%. Công tác khuyến học, khuyến tài được quan tâm. Hoạt động của Trung tâm học tập cộng đồng có nhiều đổi mới, trong 5 năm đã mở 136 lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật thu hút trên 8.000 lượt người tham gia.

2.2. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân: có nhiều chuyển biến tích cực. Năm 2019 xã được công nhận đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế giai đoạn 2016- 2020 và giữ vững xã phù hợp với trẻ em, tỷ lệ trẻ trong độ tuổi được tiêm phòng vacxin và uống vitaminA đạt 100%. Thực hiện tốt công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn xã. Tỷ lệ hộ dùng nước HVS đạt 100% (năm 2015: 98%), tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 86,2% (năm 2015:77% ). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 0,6%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 9% (năm 2015: 11,7%). Tỷ lệ người dân tham gia BHYT đạt 95 % (năm 2015: 86,8%).

2.3. Văn hóa, thông tin, tuyên truyền, thể dục, thể thao: Phát triển phong phú góp phần nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân. Phong trào xây dựng khu dân cư văn hóa, gia đình VH được đẩy mạnh. Tỷ lệ gia đình VH đạt 87%, 10/10 thôn có nhà văn hoá đạt chuẩn và giữ vững danh hiệu thôn văn hóa cấp huyện; 982 gia đình thể thao, tăng 17,2 % so với năm 2015. Có 1 thôn đạt thôn kiểu mẫu theo lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong trào văn nghệ quần chúng được quan tâm duy trì thường xuyên, hàng năm, tổ chức hội diễn văn nghệ quần chúng giữa các LVH, CSVH; chế độ phát thanh, thông tin liên lạc đảm bảo thông suốt, phục vụ kịp thời sự lãnh chỉ đạo chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền.

2.4. Lao động, việc làm và các vấn đề xã hội: Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 11,18% (năm 2015) xuống còn 4,34%. Hàng năm giải quyết việc làm từ 250-300 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo 64,7 % (tăng 26,9% so với 2015) Thực hiện tốt công tác an sinh xã hội và các hoạt động nhân đạo từ thiện.

3. Quốc phòng - An ninh - Thanh tra - Tư pháp:

3.1. Công tác quốc phòng. Duy trì thực hiện tốt chế độ sẵn sàng chiến đấu, chủ động nắm tình hình. Quan tâm xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, đảm bảo số lượng. Lực lượng nòng cốt: 71 đ/c, trong đó đảng viên chiếm 22,53%. Hàng năm hoàn thành tốt kế hoạch huấn luyện chính trị, quân sự, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, thực hiện tốt quản lý nguồn, tổ chức sơ tuyển, khám tuyển nghĩa vụ quân sự và hoàn thành chỉ tiêu giao quân hàng năm. Trong 5 năm tổ chức giao 47 thanh niên vào quân đội, công an; Thực hiện tốt chế độ chính sách hậu phương quân đội.

          3.2. An ninh: Triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, phát hiện, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn trong nhân dân; không để xảy ra điểm nóng, vụ việc nổi cộm phức tạp, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phong trào “Toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc” “Vì sự bình yên cuộc sống” được phát triển sâu rộng. Tổ chức có hiệu quả các đợt cao điểm tấn công trấn áp tội phạm và tệ nạn xã hội. Công tác bảo đảm an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ được tăng cường. Lực lượng Công an xã được quan tâm xây dựng, cơ bản đáp ứng nhiệm vụ trong tình hình mới.

3.3. Thanh tra, tư pháp. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Trong 5 năm đã giải quyết 27/27 đơn. Thực hiện tốt công tác hòa giải, giải quyết các mâu thuẫn phát sinh ngay từ cơ sở.

III. Công tác xây dựng đảng, xây dựng hệ thống chính trị

1. Công tác xây dựng Đảng.

1.1. Công tác chính trị tư tưởng: Thường xuyên quan tâm lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục, kịp thời nắm bắt diễn biến tư tưởng, cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chú trọng giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện Nghị quyết TW 4 khóa XII. Đã triển khai, quán triệt tổ chức thực hiện và sơ kết, tổng kết kịp thời, nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng. Chất lượng các chương trình hành động thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng được nâng lên.

1.2. Về thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị  Đảng ủy đã chỉ đạo Chính quyền, MTTQ, các đoàn thể, các chi bộ tổ chức cho từng tập thể, cán bộ, đảng viên, đăng ký việc làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện Quy định 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; hàng năm xây dựng kế hoạch khắc phục những tồn tại, hạn chế, khuyết điểm sau hội nghị kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII).

 1.3. Công tác tổ chức, cán bộ: thường xuyên được củng cố, kiện toàn, qua đó năng lực lãnh đạo của cấp ủy Đảng được nâng lên. Hàng năm số chi bộ  đạt trong sạch vững mạnh và hoàn thành xuất sắc chiếm 35%. Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm 85,9%. Trong đó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 12%. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, rà soát bổ sung quy hoạch đánh giá nhận xét cán bộ hàng năm. Cử đi đào tạo 19 đ/c trong đó chuyên môn ĐH,CĐ 8 đ/c, trung cấp lý luận chính trị 11 đ/c. Bồi dưỡng trình độ quản lý ngạch chuyên viên 11 đ/c. Đến nay 80% số cán bộ công chức xã đạt chuẩn (tăng 22,9 % so với 2015); Kết nạp được 28 đảng viên (vượt chỉ tiêu 3 đ/c), xóa tên đảng viên: 05 đ/c; đề nghị tặng huy hiệu Đảng 144 đ/c trong đó 1 đ/c được tặng HH 75 năm tuổi đảng, 5 đ/c HH 70 năm tuổi đảng. Thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ và công tác chính sách cán bộ.

 1.4. Công tác kiểm tra, giám sát xây dựng và hoàn thành tốt chương trình kế hoạch kiểm tra, giám sát. Cấp ủy, UBKT Đảng ủy đã kiểm tra, giám sát được 50 lượt chi bộ. Kiểm tra được 87 lượt đảng viên. Trong đó, đảng ủy, UBKT ĐU kiểm tra 15 lượt, Chi ủy kiểm tra 72 lượt với nội dung thực hiện điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, kết luận của đảng, quy chế của cấp ủy việc triển khai thực hiện Chỉ thị 05 - CT/TW của Bộ chính trị gắn với thực hiện kiểm điểm, xây dựng kế hoạch khắc phục sửa chữa hạn chế khuyết điểm theo tinh thần Nghị quyết 4 (Khóa XII); các quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đã thi hành kỷ luật 03 đảng viên với hình thức khiển trách. Lãnh đạo thực hiện tốt quy trình giải quyết đơn thư  theo quy định và đúng thẩm quyền.

1.5. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí không để xảy ra tiêu cực, tham nhũng lãng phí. Thực hiện việc công khai các dự án, các công trình, công tác thu chi ngân sách theo quy định. Thực hiện đúng việc kê khai tài sản và thu nhập của các chức danh theo quy định. Phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân với phương châm“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra theo Pháp lệnh số 34 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội.

1.6.   Hoạt động của khối dân vận cơ sở đã xây dựng và thực hiện quy chế công tác dân vận của cấp uỷ, quy chế hoạt động của khối dân vận cơ sở, xây dựng chương trình hành động thực hiện chỉ thị, nghị quyết. 100% cơ quan, đơn vị đăng ký thực hiện công tác "Dân vận khéo”. Thể hiện qua vận động nhân dân trong giải phóng mặt bằng thực hiện các dự án; phong trào xây dựng nông thôn mới đã có những mô hình dân vận khéo.

1.7. Phương thức lãnh đạo của cấp ủy có nhiều đổi mới vừa bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo của Đảng vừa phát huy tính chủ động sáng tạo của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, không có sự chồng chéo bao biện làm thay, tạo được sự đoàn kết thống nhất trong cán bộ, đảng viên và nhân dân nhất là trong cấp ủy và đội ngũ cán bộ từ xã đến thôn.

2. Hoạt động của chính quyền.

2.1. Lãnh đạo hoạt động của HĐND: Cấp ủy quan tâm lãnh đạo nâng cao chất lượng các kỳ họp cũng như chất lượng đại biểu HĐND xã. Qua 10 kỳ họp đã ban hành 56 Nghị quyết, các Nghị quyết bảo đảm quy định của pháp luật, phù hợp sát với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương và nguyện vọng của cử tri.

2.2. Lãnh đạo UBND xã: trên tinh thần công tác chỉ đạo, quản lý điều hành của UBND xã phải bám sát các chủ trương, nghị quyết của cấp ủy cụ thể hóa thành chương trình, KH. Xác định công việc trọng tâm, trọng điểm để phân công chỉ đạo tổ chức thực hiện đạt hiệu quả. Quan tâm giải quyết các đơn thư, ý kiến kiến nghị của công dân đúng quy định. Thực hiện đẩy mạnh cải cách hành chính cấp xã, nâng cao phẩm chất đạo đức, ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức.

3. Hoạt động của MTTQ, các đoàn thể nhân dân:

MTTQ, các đoàn thể nhân dân đã nâng cao hiệu quả tuyên truyền vận động đoàn viên, hội viên tích cực chấp hành thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đã vận động đoàn viên, hội viên hiến 1.500 m2 đất làm đường giao thông nội đồng, đóng góp trên 1.200 ngày công, ủng hộ trên 12 tỷ đồng xây dựng NTM. Vận động ủng hộ quỹ ngày vì người nghèo trên 100 trđ, quỹ đền ơn đáp nghĩa và quỹ từ thiện khác 332 trđ, hỗ trợ làm nhà cho 4 hộ chính sách và hộ nghèo trị giá 260 trđ. Tổ chức thăm hỏi tặng quà cho các hộ nghèo, hộ hoàn cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi, người khuyết tật số tiền 51 trđ. Phát huy vai trò chức năng giám sát, phản biện xã hội và tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. MTTQ, các đoàn thể đã phát động và tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước. Bên cạnh đó công tác tập hợp và phát triển đoàn viên, hội viên cũng được làm tốt, tỷ lệ tập hợp đoàn viên Đoàn thanh niên đạt 61,2% (so với 2015 tăng 20,2%), tỷ lệ tập hợp hội viên Hội nông dân đạt 87% (so 2015 tăng 8%) Hội cựu chiến binh đạt 90% (so 2015 tăng 4%), Hội phụ nữ 87,6% (so 2015 tăng 0,3%).